Bức tranh Đông Hồ "Hứng dừa" khá nổi tiếng. dựa trên bố cục này mà còn có bản tranh "Trong như ngọc, trắng như ngà". Ta sẽ phân tích 2 bản tranh này. Chữ trong tranh đọc theo trình tự từ trên xuống dưới, từ phải qua trái nhé.
Hai chữ Nôm lớn ở đầu tranh là tên tranh "Hứng Dừa".
• Hứng: Mượn âm chữ Hán "hứng/hưng" (興) nhưng không lấy nghĩa.
• Dừa: Có hai cách lý giải:
1. Gợi nghĩa bằng bộ "mộc" (木 - cây), kí âm bằng chữ Nôm "dưa" (荼 - quả dưa), được tạo bằng cách thêm bộ "thảo" (艹 - cỏ) vào phần kí âm "dư" (余).
2. Gợi nghĩa bằng bộ "mộc" (木 - cây), đọc chệch từ chữ Nôm "già" (茶 - già trẻ), mượn chữ Hán "chè/trà" (茶).
Phía dưới là câu thơ lục bát:
Khen ai khéo dựng nên dừa
Đấy trèo đây hứng cho vừa một đôi
Câu thơ mang ý nghĩa đôi tầng:
• Ca ngợi sự khéo léo của thiên nhiên tạo nên cây dừa sai quả.
• Cũng có thể hiểu là ngợi ca sự hòa hợp của đôi lứa trong tình yêu.
Những từ như "khéo dựng", "trèo", "hứng", "một đôi" càng làm nổi bật ý nghĩa tình tứ trong tranh.
Giải thích chữ Nôm trong câu thơ:
• Khen: Đọc lệch từ chữ "khan/khán" (看), gợi nghĩa bằng bộ "khẩu" (口 - miệng).
• Ai: Mượn âm chữ "ai" (埃), không lấy nghĩa.
• Khéo: Đọc lệch từ chữ "giáo/khiếu" (窖). Thực chất, "khéo" là âm Hán-Việt cổ của chữ "xảo" (巧 - khéo léo, tinh xảo), có phiên thiết là khổ giảo thiết (苦絞切) hoặc khổ giáo thiết (苦敎切). Âm này từng phát triển thành khyáo/khyảo, rồi bị vòm hóa và trở thành "khéo", về sau chuẩn hóa thành "xảo".
• Dựng: Đây là chữ đánh đố nhiều người. Bản tranh Henri Oger trong Technique du peuple annamite (Kỹ thuật của người An Nam, 1908) ghi nhận chữ Nôm "nặn", viết bằng chữ "nạn" (難 - khó khăn), trùng với câu ca dao dân gian:
"Khen ai khéo nặn nên dừa / Đấy trèo đây hứng cho vừa một đôi."
Trong tranh Đông Hồ, chữ "dựng" thường viết bằng chữ Nôm dựa trên "vựng" (暈) nhưng được lược bớt nét trên đầu, đồng thời thêm bộ "thủ" (扌 - tay) để gợi nghĩa.
• Nên: Đọc lệch từ chữ "niên" (年), ghi nghĩa bằng chữ "thành" (成 - nên, thành công).
• Đấy: Đọc lệch từ chữ "đế" (帝), ghi nghĩa bằng chữ "chi" (之 - đấy, đó, ấy, kia).
• Trèo: Đọc lệch từ chữ "triều" (朝), gợi nghĩa bằng bộ "túc" (足 - chân).
• Đây: Đọc lệch từ chữ "đê" (低 - thấp).
• Cho: Đọc lệch từ chữ "chu" (朱 - đỏ son).
• Vừa: Đọc lệch từ chữ "bì/bìa" (皮 - da).
• Một: Chữ Nôm giản hóa từ chữ Hán "một" (沒/没 - mất, chìm).
• Đôi: Mượn âm chữ "đôi" (堆), không lấy nghĩa.
Câu thơ lục bát trong tranh cho thấy nội dung bức tranh liên quan đến tình yêu đôi lứa.
Bố cục và câu chữ
Bức tranh này có dòng chữ:
Trong như ngọc, trắng như ngà.
• "Trong" (中) - Viết bằng chữ "trung", gợi nghĩa bằng bộ "thuỷ" (氵) (nước).
• "Như" (如) - Là chữ Hán, mang nghĩa "giống như".
• "Ngọc" (玉) - Chữ Hán, nghĩa là viên ngọc.
• "Trắng" (壯) - Đọc lệch âm chữ "tráng", ghi nghĩa bằng chữ "bạch" (白) (trắng).
• "Ngà" (牙) - Ghi bằng chữ "nha" (牙) (răng), thêm bộ "ngọc" (𤣩), nghĩa là ngà voi.
Tranh này có bố cục tương tự "Hứng dừa", nhưng có sự khác biệt:
• Có đến hai cặp đôi trong tranh.
• Câu thơ nhấn mạnh vào vẻ đẹp trong sáng, thuần khiết:
Trong như ngọc, trắng như ngà
Câu thơ này cũng có thể được hiểu theo hai nghĩa:
• Nghĩa tả thực: Chỉ quả dừa có nước trong và cơm trắng.
• Nghĩa ẩn dụ: Gợi tả vẻ đẹp của người con gái với làn da trắng trẻo, thanh khiết như ngọc ngà.
Tranh dân gian Đông Hồ "Hứng Dừa" - Minh họa câu thơ lục bát "Khen ai khéo dựng nên dừa, Đấy trèo đây hứng cho vừa một đôi", thể hiện tình yêu đôi lứa qua hình ảnh hái dừa.
Tranh dân gian Đông Hồ "Trong Như Ngọc, Trắng Như Ngà" - Biến thể của tranh Hứng Dừa, với câu thơ ca ngợi vẻ đẹp trong sáng, thuần khiết của quả dừa và ẩn dụ cho vẻ đẹp của người con gái.